Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 80 năm ngày tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (06/01/1946 - 06/01/2026)
Đề cương tuyên truyền kỷ
niệm 80 năm ngày tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (06/01/1946 -
06/01/2026)
I. TỪ QUỐC DÂN ĐẠI HỘI TÂN TRÀO ĐẾN
CUỘC TỔNG TUYỂN CỬ ĐẦU TIÊN
1. Quốc dân Đại hội Tân Trào - tiền
thân của Quốc hội Việt Nam
Tư tưởng xây dựng một nhà nước kiểu
mới mà ở đó Nhân dân là người chủ của đất nước đã được Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc -
Hồ Chí Minh nhận định trong tác phẩm Đường cách mệnh (1927): “Chúng ta đã hy
sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì
quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới
khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới hạnh phúc”.
Trong quá trình chuẩn bị cho cuộc Tổng
khởi nghĩa giành chính quyền tháng 10/1944, trước chuyển biến nhanh chóng của
tình hình thế giới có lợi cho cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi
thư cho quốc dân đồng bào thông báo chủ trương triệu tập Đại hội đại biểu quốc
dân để thành lập một cơ cấu đại biểu cho sự chân thành đoàn kết và hành động
nhất trí của toàn thể quốc dân ta tạo nên sức mạnh dân tộc bên trong và tranh
thủ ngoại viện của quốc tế nhằm chớp thời cơ thuận lợi thực hiện cho được mục tiêu
độc lập, tự do. Giữa tháng 8/1945, khi chủ nghĩa phát xít tuyên bố đầu
hàng các nước Đồng minh không điều kiện và lực lượng cách mạng Việt Nam đã phát
triển mạnh mẽ trong cả nước, Hội nghị toàn quốc của Đảng Cộng sản Đông Dương đã
họp tại Tân Trào (Tuyên Quang) từ ngày 13 -15/8/1945 để quyết định phát động
Tổng khởi nghĩa.
Ngày 16/8/1945, tại đình Tân Trào
(Tuyên Quang), Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng bộ Việt Minh (Việt Nam độc lập Đồng
minh hội) đã khai mạc Đại hội đại biểu Quốc dân (còn gọi là Quốc dân Đại hội
Tân Trào). Tham dự Đại hội có hơn 60 đại biểu đại diện cho cả 3 miền Bắc -
Trung - Nam, đại diện cho các ngành, các giới, các dân tộc, các đảng phái chính
trị, các đoàn thể cứu quốc và một số Việt kiều ở Thái Lan và Lào để bàn kế
hoạch Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về Nhân dân. Đại hội đại biểu Quốc
dân đã thông qua ba quyết định lớn: nhất trí tán thành chủ trương phát động
Tổng khởi nghĩa của Đảng Cộng sản Đông Dương và Tổng bộ Việt Minh; thông qua 10
chính sách của Việt Minh và hiệu triệu đồng bào tích cực phấn đấu thực hiện,
trong đó, điểm mấu chốt đầu tiên là giành lấy chính quyền, xây dựng một nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên nền tảng hoàn toàn độc lập; thành lập Uỷ ban Dân
tộc giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.
Đại hội đã quy định Quốc kỳ là lá cờ
đỏ có ngôi sao vàng 5 cánh ở giữa, Quốc ca là bài “Tiến quân ca”. Ngày
17/8/1945, Đại hội bế mạc trong không khí sôi nổi của Tổng khởi nghĩa; thay mặt
Uỷ ban Dân tộc giải phóng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc lời tuyên thệ:
“Chúng tôi là những người được Quốc dân đại biểu bầu vào Uỷ ban dân tộc giải
phóng để lãnh đạo cuộc cách mạng của Nhân dân. Trước lá cờ thiêng liêng của Tổ
quốc, chúng tôi nguyện kiên quyết lãnh đạo Nhân dân tiến lên, ra sức chiến đấu
chống quân thù, giành lại độc lập cho Tổ quốc. Dù phải hy sinh đến giọt máu
cuối cùng, không lùi bước”.
Quốc dân Đại hội Tân Trào là mốc son
trong lịch sử vẻ vang của cách mạng Việt Nam, là tiền thân của Quốc hội Việt
Nam, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Việt Nam quốc dân đại
biểu Đại hội cử ra Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam để lãnh đạo toàn quốc
nhân dân kiên quyết đấu tranh kỳ cho nước được độc lập. Đó là một tiến bộ rất
lớn trong lịch sử tranh đấu giải phóng của dân tộc ta từ ngót một thế kỷ nay.
Đó là một điều khiến cho đồng bào ta phấn khởi và riêng tôi hết sức vui mừng”.
2. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám
và Tổng tuyển cử đầu tiên bầu ra Quốc hội Việt Nam
Thực hiện Nghị quyết Tổng khởi nghĩa
giành chính quyền, Nhân dân Việt Nam đã nhất tề nổi dậy. Cuộc Tổng khởi nghĩa
đã nhanh chóng giành được thắng lợi, tiêu biểu là khởi nghĩa ở Hà Nội (ngày
19/8/1945), Huế (ngày 23/8/1945), Sài Gòn (ngày 25/8/1945). Ngày 25/8/1945,
theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Uỷ ban giải phóng Dân tộc do Quốc dân
Đại hội Tân Trào cử ra được cải tổ thành Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam -
Một Chính phủ quốc gia thống nhất, giữ trọng trách là chỉ đạo cho toàn thể, đợi
ngày triệu tập được Quốc hội để cử ra một Chính phủ cộng hoà chính thức.
Ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba
Đình, Hà Nội, trước hàng chục vạn đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính
phủ lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ngày 03/9/1945, Chính phủ lâm thời tổ chức phiên họp đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã đề nghị Chính phủ “tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế
độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng
cử và bầu cử, không phân biệt giàu, nghèo, tôn giáo, dòng giống…”.
Ngày 08/9/1945, Chủ tịch Chính phủ lâm
thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ban hành Sắc lệnh số 14-SL quy định mở cuộc
Tổng tuyển cử để bầu Quốc hội; ban hành Sắc lệnh số 39-SL ngày 26/9/1945
về thành lập Uỷ ban dự thảo thể lệ cuộc Tổng tuyển cử; ban hành Sắc
lệnh số 51-SL ngày 17/10/1945 quy định thể lệ cuộc Tổng tuyển cử phải
thực hiện theo lối phổ thông đầu phiếu, bầu cử trực tiếp và bỏ phiếu kín;
Sắc lệnh số 71-SL ngày 02/12/1945 bổ khuyết Điều 11 chương V của Sắc lệnh số
51-SL nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người ứng cử. Công tác chuẩn bị
cho Tổng tuyển cử diễn ra rất khẩn trương trong bối cảnh thù trong, giặc ngoài;
nền kinh tế - xã hội đến mức hết sức khó khăn. Cuộc Tổng tuyển cử lúc đầu dự
kiến là ngày 23/12/1945 nhưng để thực hiện chủ trương thống nhất và hoà giải,
có thêm thời gian cho công tác chuẩn bị và các ứng cử viên có điều kiện nộp
đơn, đi vận động tranh cử; ngày 18/12/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh
hoãn cuộc Tổng tuyển cử đến ngày 06/01/1946.
Việc tổ chức Tổng tuyển cử, các ban
bầu cử đã được thành lập tới tận làng xã do Uỷ ban nhân dân các cấp trực tiếp
đảm nhiệm. Nhiều người có tài, có đức xung phong ra ứng cử hoặc được quần chúng
giới thiệu ra ứng cử. Danh sách cử tri và ứng cử viên được hoàn thành và niêm
yết công khai. Quần chúng sôi nổi trao đổi, tranh luận, chất vấn nhằm lựa chọn
được những người xứng đáng nhất làm đại diện cho mình, hạn chế những phần tử cơ
hội lợi dụng dịp Tổng tuyển cử để tranh giành quyền chức.
Ngày 05/01/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh
ra Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu. Đáp lại lời kêu gọi thiêng liêng của Tổ
quốc, bằng ý chí sắt đá của một dân tộc quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do vừa
giành được, toàn thể Nhân dân Việt Nam từ miền xuôi đến miền ngược, từ miền Bắc
đến miền Nam, từ nông thôn đến thành thị, không phân biệt gái trai, già trẻ đã
dành trọn ngày lịch sử - ngày 06/01/1946: Toàn dân đi bỏ phiếu bầu cử Quốc hội.
3. Kết quả của
cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên
Ngày 06/01/1946,
cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên đã diễn ra trên cả nước, kể cả các
vùng đang có chiến sự ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Ở Hà Nội đã có
91,95% cử tri của 74 khu nội thành và 118 làng ngoại thành đi bỏ phiếu trong
không khí tràn đầy phấn khởi của ngày hội dân chủ. Kết quả, có 6 trong số 74
ứng cử viên đã trúng cử đại biểu Quốc hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh trúng cử với số
phiếu cao nhất (98,4%).
Cuộc Tổng tuyển
cử được tiến hành sôi nổi trên khắp cả nước. Riêng các tỉnh phía Bắc, mặc dù
phải đối phó với âm mưu phá hoại hết sức tinh vi và trắng trợn của kẻ thù,
nhưng cuộc Tổng tuyển cử diễn ra an toàn. Các tỉnh phía Nam, nhất là ở Nam Bộ,
cuộc bầu cử diễn ra dưới bom đạn rất ác liệt của giặc Pháp lúc bấy giờ.
Tổng số cử tri đi
bỏ phiếu đạt tỷ lệ 89%, trừ một số nơi phải bầu bổ sung còn tuyệt đại đa số các
địa phương chỉ bầu một lần. Cuộc Tổng tuyển cử đã bầu được 333 đại biểu,
trong đó có 57% số đại biểu thuộc các đảng phái khác nhau; 43% số đại biểu không
đảng phái; 87% số đại biểu là công nhân, nông dân, chiến sỹ cách mạng; 10 đại
biểu nữ và 34 đại biểu dân tộc thiểu số. Trong thành phần của Quốc hội có đại
biểu đại diện cho cả ba miền Bắc - Trung - Nam, các giới từ những nhà cách mạng
lão thành, thương gia, nhân sĩ trí thức và các nhà hoạt động văn hóa, đến đại
biểu các thành phần tôn giáo, những người không đảng phái và các đảng phái
chính trị.
Cuộc Tổng tuyển
cử đầu tiên của Việt Nam năm 1946 được tiến hành theo những nguyên tắc dân chủ,
tiến bộ nhất, đó là: phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín đã hoàn
toàn thắng lợi. Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) ra đời, thắng lợi đó là một mốc son
đánh dấu bước phát triển nhảy vọt đầu tiên về thể chế dân chủ của nước Việt
Nam.
4. Ý nghĩa của
cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên
Thắng lợi của
cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam đánh dấu bước trưởng thành
của Nhà nước cách mạng Việt Nam, mở ra một thời kỳ mới của đất nước ta có một
Quốc hội, một Chính phủ thống nhất, một bản Hiến pháp tiến bộ và một hệ thống
chính quyền hoàn toàn đầy đủ danh nghĩa về mặt pháp lý để đại diện cho Nhân dân
Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Cuộc bầu cử là căn cứ để khẳng định Nhà nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có tính chất hợp pháp, dân chủ - Nhà nước của dân, do
dân và vì dân, được quốc dân giao phó trọng trách điều hành đất nước, tổ chức
toàn dân kháng chiến, kiến quốc, giải quyết mọi quan hệ của Việt Nam trên
trường quốc tế.
Thắng lợi của
cuộc Tổng tuyển cử đã khẳng định chủ trương, đường lối của Đảng ta đúng đắn,
sáng tạo, sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; thể hiện
khát vọng được độc lập, tự do của Nhân dân Việt Nam.
Thắng lợi của
cuộc Tổng tuyển cử cũng đã khẳng định niềm tin tuyệt đối của Đảng và Chủ tịch
Hồ Chí Minh vào tinh thần yêu nước của Nhân dân ta; đồng thời, đó cũng là sự
biểu thị khát vọng dân chủ của Nhân dân và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn
dân tộc.
QUÁ TRÌNH PHÁT
TRIỂN CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM
1. Thời kỳ 1946 -
1960
Thời kỳ này, Quốc
hội nước ta đã cùng với dân tộc trải qua nhiều khó khăn, gian khó để tiến hành
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong năm 1946, Quốc hội đã có những hành
động quyết liệt để đoàn kết, thống nhất dân tộc, chống thù trong, giặc ngoài,
xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng.
Kỳ họp thứ nhất,
khai mạc vào ngày 02/3/1946 tại Nhà hát lớn Hà Nội, Quốc hội đã thực hiện những
nhiệm vụ của cơ quan có quyền cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Quốc
hội đã nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đại diện cho Chính phủ khai mạc và báo cáo những
công việc đã làm trong thời gian trước đó; biểu quyết thông qua danh sách các
thành viên Chính phủ liên hiệp kháng chiến gồm 12 người, lập ra Cố vấn đoàn,
Kháng chiến ủy viên hội; bầu Ban Thường trực Quốc hội do ông Nguyễn Văn Tố làm
Trưởng ban và quyết định khi Chính phủ muốn tuyên chiến hay đình chiến bắt buộc
phải hỏi ý kiến Ban Thường trực Quốc hội; đồng thời, tại kỳ họp thứ nhất, để
tập hợp các lực lượng đại diện các đảng phái, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị
và được toàn thể Quốc hội chấp nhận mở rộng thành phần Quốc hội thêm 70
đại biểu cho 2 Đảng phái là Quốc dân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam độc lập Đồng
minh hội (Việt Cách) mà không qua bầu cử. Như vậy, tổng số đại biểu Quốc
hội khóa I nâng lên thành 403 đại biểu.
Kỳ họp thứ hai,
tổ chức từ ngày 28/10 đến 09/11/1946, vai trò của Quốc hội được thể hiện rõ nét
hơn qua việc thực hiện những nhiệm vụ rất quan trọng về đối nội và đối ngoại.
Cụ thể là các đại biểu Quốc hội đã chất vấn Chính phủ và Ban Thường trực Quốc
hội nhiều vấn đề thuộc các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, quân sự, kinh tế,
tài chính, nội vụ, việc ký kết Hiệp định sơ bộ ngày 06/3/1946, Cuộc đàm phán
Fontainebleau đi đến Bản Thỏa hiệp tạm thời ngày 14/9/1946. Tại kỳ họp này,
Quốc hội đã thảo luận và thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa - Hiến pháp 1946 với 240/242 đại biểu biểu quyết tán thành. Đây là
bản Hiến pháp đầu tiên phản ánh bản chất dân chủ của nhà nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa, nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Tuy nhiên, do
hoàn cảnh chiến tranh đang lan rộng, việc chuẩn bị kháng chiến rất khẩn trương;
bầu Nghị viện nhân dân theo quy định của Hiến pháp 1946 chưa thể tổ chức được.
Quốc hội lập hiến do toàn dân bầu ra ngày 06/01/1946 trở thành Quốc hội lập
pháp và kéo dài nhiệm kỳ hoạt động (khóa I) đến năm 1960.
Giai đoạn
1946-1954, Quốc hội đã cùng với Nhân dân tiến hành sự nghiệp kháng chiến, kiến
quốc, thực hiện cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, quyết liệt trên các mặt
trận quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa... Để sự lãnh đạo và điều hành đất
nước được tập trung thống nhất, Quốc hội đã giao quyền hạn tập trung vào Chính
phủ. Ban Thường trực Quốc hội luôn cùng Chính phủ bàn bạc, tham gia ý kiến về
các chủ trương, chính sách lớn và giám sát, phê bình Chính phủ về mọi công việc
kháng chiến. Đây là nét rất đặc biệt của Quốc hội Việt Nam trong giai đoạn này
- Quốc hội kháng chiến.
Giai đoạn từ
1954-1960, theo Hiệp định Genevơ về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, đất nước ta
tạm thời chia làm hai miền Bắc - Nam. Trong bối cảnh đó, Quốc hội đã cùng với
Nhân dân tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng: miền Bắc sau khi giải
phóng đã bước vào thời kỳ khôi phục, cải tạo, phát triển kinh tế, văn hóa, xã
hội theo con đường xã hội chủ nghĩa; miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc
dân chủ, tiến hành đấu tranh giải phóng miền Nam tiến tới hòa bình, thống nhất
đất nước.
Quốc hội khóa I
tổ chức 12 kỳ họp trong 14 năm và xem xét, thông qua bản Hiến pháp 1946 và Hiến
pháp 1959, 16 đạo luật và 50 nghị quyết, trong đó có những đạo luật quan trọng
như: Luật Cải cách ruộng đất, Luật quy định quyền tự do hội họp, Luật quy định quyền
lập hội, Luật về chế độ báo chí... Đánh giá công lao to lớn của Quốc hội khóa
I, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Quốc hội ta đã hết lòng vì dân vì
nước, đã làm trọn một cách vẻ vang nhiệm vụ của những đại biểu của nhân
dân” tại kỳ họp thứ 12.
2. Thời kỳ 1960 -
1980
Thời kỳ này, Quốc
hội hoạt động theo Hiến pháp 1959 và Luật Tổ chức Quốc hội năm 1960. Đây là
thời kỳ Quốc hội hoạt động trong điều kiện miền Bắc tiến hành xây dựng chủ
nghĩa xã hội làm hậu phương lớn cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền
Nam. Hiến pháp 1959 quy định rõ ràng và đầy đủ hơn về vị trí, vai trò của
Quốc hội, như: Quốc hội có 17 nhiệm vụ, quyền hạn, trong đó xây dựng Hiến pháp
và sửa đổi Hiến pháp; làm pháp luật; giám sát việc thi hành Hiến pháp; bầu Chủ
tịch và Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; theo đề nghị của Chủ tịch
nước quyết định cử Thủ tướng Chính phủ; theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ
quyết định cử Phó Thủ tướng và các thành viên khác của Hội đồng Chính phủ; bầu
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; bầu Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao...
Cơ cấu tổ chức
của Quốc hội được quy định trong Hiến pháp 1959 bao gồm Ủy ban Thường vụ Quốc
hội, Ủy ban dự án pháp luật, Ủy ban kế hoạch và ngân sách và những Ủy ban khác
mà Quốc hội xét thấy cần thiết để giúp Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Ủy
ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội do Quốc hội bầu ra,
gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Tổng thư ký và các ủy viên. Ủy ban Thường vụ
Quốc hội thực thi 18 nhiệm vụ, quyền hạn, như: Tuyên bố và chủ trì việc tổng
tuyển cử đại biểu Quốc hội; triệu tập Quốc hội; giải thích pháp luật; quyết
định việc trưng cầu ý kiến Nhân dân. Thời kỳ này, Quốc hội đã có 05 khóa hoạt
động.
- Quốc
hội khóa II (1960 - 1964): tổ chức bầu ngày
08/5/1960; tổng số 453 đại biểu, trong đó có 91 đại biểu miền Nam lưu nhiệm
theo Nghị quyết của kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa I. Đây là nhiệm kỳ đầu tiên nhà
nước và Nhân dân đi vào thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân theo
đường lối chiến lược do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đề ra. Nhiệm kỳ
Quốc hội là 4 năm, có 8 kỳ họp và thông qua 6 đạo luật quan trọng về tổ chức
của các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương. Ủy ban Thường vụ Quốc hội
đã ban hành 9 pháp lệnh. Quốc hội đã phát huy vai trò quan trọng của mình trong
việc động viên sức người, sức của để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và
đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Quốc hội đã thông qua Kế
hoạch phát triển kinh tế quốc dân 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965), thông qua
Cương lĩnh hành động của toàn dân nhằm thực hiện nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ
nghĩa và bước đầu xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở
miền Bắc; thông qua kế hoạch hằng năm, xét duyệt và phê chuẩn dự toán, quyết
toán ngân sách nhà nước; phê chuẩn việc thành lập các tổ chức và cơ quan nhà
nước; bổ nhiệm cán bộ cấp cao của Nhà nước; phê chuẩn việc khen thưởng và đã
tích cực giải quyết các đơn thư khiếu tố của Nhân dân, ân xá những phạm
nhân cải tạo tốt.
- Quốc
hội khóa III (1964 - 1971): tổ chức bầu ngày 26/4/1964; tổng số
453 đại biểu, trong đó có 87 đại biểu Quốc hội khóa I thuộc các tỉnh miền Nam
được lưu nhiệm. Nhiệm kỳ khóa III của Quốc hội hoạt động trong thời kỳ chiến
tranh, nên kéo dài trong 7 năm, với 7 kỳ họp; Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã họp
95 phiên, thông qua nhiều nghị quyết về các lĩnh vực chính trị, kinh tế, đối
ngoại, về tổ chức hành chính, về nhân sự phục vụ sự nghiệp xây dựng miền Bắc,
phục vụ sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Năm 1965, đế quốc Mỹ mở rộng
chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân. Lúc này, mọi yêu cầu
nhiệm vụ về quân sự, kinh tế, chính trị... đòi hỏi phải được giải quyết kịp
thời. Quốc hội đã thông qua Nghị quyết giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội thêm
một số quyền hạn trong trường hợp Quốc hội không có điều kiện thuận tiện để
họp. Theo đó, những chủ trương, chính sách, nhiệm vụ công tác lớn về chống Mỹ,
cứu nước, về chính sách kinh tế thời chiến, về đối ngoại đều được Chính phủ kịp
thời báo cáo với Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn nhanh chóng,
là điều kiện quan trọng bảo đảm kịp thời những yêu cầu, nhiệm vụ của cách
mạng.
- Quốc
hội khóa IV (1971 - 1975): tổ chức bầu ngày 11/4/1971; tổng số 420 đại
biểu. Quốc hội khóa IV họp 5 kỳ trong 4 năm; Ủy ban Thường vụ Quốc hội họp 53
phiên và đã ban hành nhiều nghị quyết quan trọng về phương hướng, nhiệm vụ, chỉ
tiêu của các kế hoạch khôi phục và phát triển kinh tế; phê chuẩn dự toán và
quyết toán ngân sách nhà nước hằng năm, góp phần quan trọng vào việc củng cố và
xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, bảo đảm sức mạnh để đánh thắng cuộc chiến
tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ, buộc Mỹ phải đàm phán và ký kết Hiệp
định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (1973). Hoạt
động của Quốc hội đã góp phần quan trọng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy
của quân và dân ta đánh đổ chế độ thực dân mới ở miền Nam, hoàn thành cách mạng
dân tộc dân chủ, thống nhất đất nước.
- Quốc
hội khóa V (1975 - 1976): tổ chức bầu ngày 06/4/1975; tổng số 424 đại biểu.
Quốc hội khóa V ra đời trong bối cảnh miền Nam vừa mới giải phóng (30/4/1975)
và hoạt động chưa đầy 2 năm, họp 2 kỳ; Ủy ban Thường vụ Quốc hội họp 10 phiên
đã quyết định nhiều vấn đề quan trọng của đất nước. Đặc biệt, Quốc hội đã góp
phần quan trọng trong việc thống nhất nước nhà về mặt nhà nước. Theo đó, trên
cơ sở sự nhất trí giữa Quốc hội và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với các
cơ quan có trách nhiệm ở miền Nam, ngày 27/10/1975, Ủy ban Thường vụ Quốc hội
đã họp phiên đặc biệt để thảo luận, thông qua đề án thực hiện thống nhất nước
nhà về mặt nhà nước, cử đoàn đại biểu miền Bắc tham dự Hội nghị hiệp thương với
đoàn đại biểu miền Nam. Tại Hội nghị hiệp thương, các đại biểu của đoàn miền
Bắc và đại biểu của đoàn miền Nam đã khẳng định cần hoàn thành thống nhất nước
nhà trên cơ sở độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là sự thống nhất trọn
vẹn vững chắc nhất. Tại kỳ họp thứ hai (tháng 12/1975), Quốc hội đã nhất trí thông
qua Nghị quyết phê chuẩn kết quả Hội nghị hiệp thương mở ra thời kỳ phát triển
mới của nước Việt Nam thống nhất.
- Quốc hội khóa VI (1976 -
1981): tổ chức bầu ngày 25/4/1976, là Quốc hội của nước Việt Nam thống
nhất; tổng số 492 đại biểu. Kết quả của cuộc Tổng tuyển cử là một thắng lợi có
ý nghĩa quyết định đưa cách mạng Việt Nam chính thức bước sang một giai đoạn
mới, giai đoạn cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Để thể hiện tính liên tục của
Nhà nước qua các thời kỳ đấu tranh cách mạng, Quốc hội đã quy định Quốc hội của
nước Việt Nam thống nhất là Quốc hội khóa VI. Quốc hội quyết định đổi tên nước
là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quy định Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca;
chính thức đổi tên thành phố Sài Gòn - Gia Định là Thành phố Hồ Chí Minh; quy
định Thủ đô của nước Việt Nam thống nhất là Hà Nội. Đồng thời, Quốc hội đã ra
Nghị quyết về việc thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội khóa VI diễn ra trong 5 năm, họp 7 kỳ và quyết
định nhiều vấn đề quan trọng của đất nước. Kỳ họp thứ 7 (tháng 12/1980), Quốc
hội đã thông qua bản Hiến pháp mới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Hiến pháp 1980. Đây là bản Hiến pháp thứ ba được Quốc hội thông qua để đáp
ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới của cách mạng.
3. Thời kỳ 1980 - 1992
Đây là thời kỳ Quốc hội được tổ chức
và hoạt động theo Hiến pháp 1980 và Luật Tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước
1981. Quốc hội được xác định là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là cơ
quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. Quốc hội quyết định những chính
sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, những mục tiêu phát triển kinh tế - xã
hội, nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ
xã hội và hoạt động của công dân. Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối
với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.
Quốc hội được cụ thể hóa thành 15
nhiệm vụ và quyền hạn, trong đó có những nội dung rất quan trọng như: Làm Hiến
pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật; thực hiện quyền giám sát
tối cao việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật; quyết định kế hoạch nhà nước và
phê chuẩn việc thực hiện kế hoạch nhà nước; quyết định dự toán ngân sách nhà
nước và phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước... Ngoài ra, Quốc hội có thể
định cho mình những nhiệm vụ và quyền hạn khác, khi xét thấy cần thiết.
Hiến pháp 1980 đã có sự điều chỉnh lớn
về cơ cấu tổ chức của Quốc hội. Đó là việc thiết lập Hội đồng Nhà nước thay cho
chế định Ủy ban Thường vụ Quốc hội và lần đầu tiên Hiến pháp quy định chức danh
Chủ tịch Quốc hội. Hội đồng Nhà nước là cơ quan cao nhất hoạt động thường xuyên
của Quốc hội, là Chủ tịch tập thể của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chủ tịch Quốc hội có nhiệm vụ chủ tọa các phiên họp của Quốc hội; bảo đảm việc
thi hành nội quy của Quốc hội; giữ quan hệ với các đại biểu Quốc hội; điều hòa
và phối hợp hoạt động của các Ủy ban của Quốc hội; chứng thực những luật và
nghị quyết đã được Quốc hội thông qua; thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc
hội. Chủ tịch Quốc hội có quyền tham dự các phiên họp của Hội đồng Nhà nước.
Thời kỳ này, Quốc hội trải qua 02 khóa hoạt động:
- Quốc hội khóa VII (1981 -
1987): tổ chức bầu vào ngày 26/4/1981; tổng số 496 đại biểu. Quốc hội
khóa VII với 12 kỳ họp và ban hành 10 đạo luật (trong đó có Bộ luật Hình sự đã
được thông qua tại kỳ họp thứ 9 ngày 27/6/1985), 35 nghị quyết; Hội đồng Nhà
nước ban hành 15 pháp lệnh, Quốc hội đã triển khai thực hiện chức năng quyết
định các vấn đề quan trọng của đất nước, như: thành lập các cơ quan nhà nước ở
Trung ương; thông qua các nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
hằng năm; quyết định các vấn đề cử và miễn nhiệm một số thành viên Hội đồng Bộ
trưởng... Hoạt động giám sát cũng được Quốc hội và Hội đồng Nhà nước coi trọng,
tập trung vào các vấn đề quản lý kinh tế - xã hội, việc thi hành Hiến pháp,
pháp luật nhằm tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Hoạt động chất vấn tại kỳ
họp đã có bước cải tiến, tại kỳ họp thứ 10, các đại biểu Quốc hội đã tập trung
chất vấn vào việc đánh giá những sai lầm, khuyết điểm về việc thực hiện chính
sách “giá - lương - tiền”, đồng thời đề ra những biện pháp khắc phục. Thời kỳ
này, hoạt động ngoại giao nghị viện cũng được đẩy mạnh, chú trọng nguyên tắc
nhất quán, ủng hộ những sáng kiến hòa bình, bảo đảm an ninh chung của nhân
loại.
- Quốc hội khóa VIII (1987 -
1992): tổ chức bầu ngày 19/4/1987; tổng số 496 đại biểu. Quốc
hội khóa VIII, là Quốc hội của giai đoạn đầu sự nghiệp đổi mới toàn diện đất
nước do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đề ra. Nhiệm kỳ này Quốc
hội họp 11 kỳ và thông qua 2 bộ luật, 25 đạo luật; Hội đồng Nhà nước đã ban
hành 39 pháp lệnh. Kỳ họp thứ 5 (tháng 6/1989), Quốc hội đã thông qua Nghị
quyết về việc thành lập Ủy ban sửa đổi Hiến pháp để tiến hành sửa đổi Hiến pháp
1980 một cách cơ bản và đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới. Hiến pháp
mới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được Quốc hội khóa VIII xem
xét, thông qua tại kỳ họp thứ 11 (năm 1992). Kế thừa và phát triển các bản Hiến
pháp trước đây, ngoài việc thể hiện ý chí và nguyện vọng của Nhân dân, Hiến
pháp 1992 đã thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội và tạo hành lang pháp lý cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa, đưa đất nước phát triển trong giai đoạn mới.
4. Thời kỳ 1992 đến nay
Đây là thời kỳ Quốc hội được tổ chức
và hoạt động theo Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 2013. Quốc hội đã có những đổi
mới cơ bản, khắc phục tính hình thức, hạn chế trong hoạt động ở các khóa trước
và ngày càng khẳng định vị trí, vai trò là cơ quan đại biểu dân cử cao nhất, cơ
quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Thời kỳ này, Quốc hội có 7 khóa hoạt động:
- Quốc hội khóa IX (1992 -
1997): tổ chức bầu ngày 19/7/1992; tổng số 395 đại biểu. Quốc
hội khóa IX hoạt động theo quy định của Hiến pháp 1992, trong đó có vai trò
quan trọng về việc thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội và Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội
đến năm 2000 do Đại hội lần thứ VII của Đảng đề ra. Quốc hội cũng đã thông
qua Nghị quyết về nhiệm vụ kế hoạch 5 năm (1996-2000). Hoạt động của Quốc
hội đã góp phần đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới sâu sắc và toàn diện, phát huy vai
trò của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực sự là nhà nước của Nhân dân, do Nhân
dân và vì Nhân dân. Quốc hội khóa IX tiến hành 11 kỳ họp và ban hành 36 luật,
bộ luật, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành 43 pháp lệnh. Quốc hội đã có nhiều
quyết sách quan trọng để xây dựng và phát triển đất nước. Công tác giám sát của
Quốc hội đã có những đổi mới như tiến hành nghe các báo cáo hoạt động của các
cơ quan nhà nước ở Trung ương; cử các đoàn đi kiểm tra, giám sát việc thi hành
pháp luật ở địa phương. Quốc hội đã chú trọng đến công tác dân nguyện, tiếp dân
và giải quyết các đơn thư của Nhân dân; tổ chức nhiều đoàn công tác của Quốc
hội về địa phương để đôn đốc việc giải quyết của các cơ quan có thẩm
quyền.
- Quốc hội khóa 10 (1997 -
2002): tổ chức bầu ngày 20/7/1997; tổng số 450 đại biểu. Quốc hội khóa 10
tiến hành 11 kỳ họp và ban hành 01 bộ luật, 31 luật; Ủy ban Thường vụ Quốc hội
ban hành 39 pháp lệnh. Nổi bật của kỳ họp thứ 10, Quốc hội đã ban hành Nghị
quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992,
nhằm thể chế hóa đường lối của Đảng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ
IX của Đảng. Quốc hội ngày càng chú trọng và chủ động hơn trong việc xem xét,
quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, như: Quyết định các kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội, các chương trình mục tiêu quốc gia, tổ chức bộ máy
và nhân sự của các cơ quan nhà nước do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn, các vấn đề
về bảo đảm quốc phòng, an ninh. Hoạt động giám sát của Quốc hội khóa 10 cũng
được triển khai tích cực, có sự đổi mới cả về nội dung và hình thức giám sát.
Hoạt động đối ngoại của Quốc hội được triển khai chủ động nhằm củng cố và phát
triển quan hệ hữu nghị với tất cả các nước; đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt
động trên các diễn đàn nghị viện đa phương.
- Quốc hội khóa XI (2002 -
2007): tổ chức bầu ngày 19/5/2002; tổng số 498 đại biểu. Trong nhiệm kỳ
này, số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách đã tăng lên đáng kể. Có 120 đại
biểu (chiếm gần 25% tổng số đại biểu Quốc hội) hoạt động chuyên trách ở các cơ
quan của Quốc hội và 64 đoàn đại biểu Quốc hội các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương. Quốc hội đã ban hành 84 luật, bộ luật; Ủy ban Thường vụ Quốc hội
ban hành 31 pháp lệnh. Chất lượng các dự án luật, pháp lệnh được thông qua đã
bám sát yêu cầu của cuộc sống, xử lý tốt một số vấn đề nhạy cảm và phản ánh đầy
đủ hơn thực tiễn xã hội. Hoạt động giám sát có bước đổi mới, nội dung giám sát
đã tập trung vào các vấn đề bức xúc được dư luận phản ánh và Nhân dân quan tâm,
như: Đầu tư dàn trải, thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản; quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất; triển khai thực hiện một số công trình quan trọng quốc gia;
về giáo dục, y tế; phòng, chống tham nhũng, lãng phí... Việc quyết định những
vấn đề quan trọng của đất nước ngày càng thực chất hơn, từ tổ chức bộ máy nhà
nước, nhân sự cấp cao, nhiệm vụ, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ngân
sách nhà nước cho đến chủ trương đầu tư các dự án, công trình quan trọng quốc
gia, phê chuẩn Nghị định thư về việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế
giới...
- Quốc hội khóa XII (2007 -
2011): tổ chức bầu ngày 20/5/2007; tổng số 493 đại biểu. So với
nhiệm kỳ trước, số lượng các Ủy ban của Quốc hội khóa XII tăng lên thành 9 Ủy
ban với việc Quốc hội thành lập mới Ủy ban Tư pháp, tách Ủy ban Kinh tế - Ngân
sách thành Ủy ban Kinh tế và Ủy ban Tài chính, Ngân sách. Số lượng đại biểu
Quốc hội hoạt động chuyên trách cũng được tăng cường với 145 đại biểu, chiếm
29,41% tổng số đại biểu Quốc hội. Trong nhiệm kỳ 4 năm, Quốc hội khóa XII đã
ban hành 68 luật, 12 nghị quyết; Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành 13 pháp
lệnh và 7 nghị quyết. Các văn bản pháp luật đã ban hành bảo đảm tính hợp hiến,
hợp pháp, thống nhất và đồng bộ, đáp ứng kịp thời yêu cầu quản lý và điều hành
kinh tế - xã hội của đất nước. Hoạt động giám sát được tăng cường, có nhiều đổi
mới về cách thức tiến hành, nhất là chất vấn và giám sát chuyên đề. Nội dung
giám sát tập trung vào những vấn đề bức xúc của cuộc sống, bao quát hầu hết các
lĩnh vực. Chất vấn và trả lời chất vấn tiếp tục được cải tiến mạnh mẽ theo
hướng tập trung hơn, thực chất hơn, phản ánh sát thực tâm tư, nguyện vọng của
cử tri; chỉ ra trách nhiệm và giải pháp nhằm thúc đẩy thực hiện chủ trương,
chính sách của Đảng và nghị quyết của Quốc hội. Việc quyết định các vấn đề quan
trọng của đất nước ngày càng có chất lượng, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn vì
lợi ích của quốc gia, phù hợp với ý chí và nguyện vọng của Nhân dân.
- Quốc hội khóa XIII (2011 -
2016): tổ chức bầu ngày 22/5/2011, đây là lần đầu tiên cử tri
cả nước tham gia cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân
dân các cấp trong cùng một ngày với quy mô lớn. Cuộc bầu cử đã thành công tốt
đẹp với 99,51% cử tri đi bỏ phiếu, bầu ra 500 đại biểu Quốc hội tiêu biểu cho
khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thành tựu nổi bật nhất của Quốc hội khóa XIII,
Quốc hội đã biểu quyết thông qua toàn văn Dự thảo Hiến pháp năm 2013 (kỳ họp
thứ 6). Nhiệm kỳ này, Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã xem xét,
thông qua 100 luật, bộ luật, 10 pháp lệnh và nhiều nghị quyết có chứa quy phạm
pháp luật. Đặc biệt, sau khi Hiến pháp mới được thông qua, Quốc hội đã tập
trung xem xét, thông qua hầu hết các bộ luật lớn, các đạo luật quan trọng về tổ
chức bộ máy nhà nước, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về lĩnh
vực tư pháp, về lĩnh vực xã hội trên cơ sở bảo đảm quyền con người, quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân, bảo đảm an sinh xã hội, thể hiện nỗ lực to lớn,
trách nhiệm trước Nhân dân của Quốc hội.
Quốc hội khóa XIII, đánh dấu mốc
lịch sử khi lần đầu tiên tiến hành lấy phiếu tín nhiệm các chức danh
do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Hoạt động giám sát chuyên đề, chất vấn và
trả lời chất vấn cũng có nhiều cải tiến, đổi mới theo hướng rõ vấn đề, rõ địa
chỉ. Việc “tái” giám sát được tiến hành thường xuyên, trước hết là xem xét kết
quả thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về chất vấn và trả lời chất vấn. Theo đó,
kỳ họp sau phải báo cáo kết quả thực hiện những điều đã hứa, các giải pháp đã đưa
ra trong lần chất vấn trước. Quốc hội khóa XIII cũng ghi dấu ấn với việc lần
đầu tiên tất cả các thành viên Chính phủ, từ Thủ tướng, các Phó Thủ tướng đến
các bộ trưởng, trưởng ngành đều đăng đàn trả lời chất vấn trước Quốc hội. Các
vấn đề quan trọng của đất nước được Quốc hội thảo luận dân chủ, bám sát thực
tiễn, phân tích thấu đáo bảo đảm lợi ích chung, phù hợp với ý chí và nguyện
vọng của Nhân dân trước khi quyết định. Hoạt động đối ngoại của Quốc hội
tiếp tục được đẩy mạnh, góp phần thực hiện có kết quả đường lối đối ngoại mở
rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại của Đảng, Nhà nước và
Nhân dân. Việc đăng cai tổ chức Đại hội đồng lần thứ 132 của Liên minh nghị
viện thế giới (IPU-132) tại Hà Nội vào tháng 3/2015 là một sự kiện chính trị
quan trọng có ý nghĩa lịch sử ngoại giao hết sức to lớn, thể hiện tinh thần chủ
động và tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng của Quốc hội nước ta, góp phần thực
hiện thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta và không ngừng nâng
cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
- Quốc hội khóa XIV (2016 -
2021): tổ chức bầu ngày 22/5/2016 với 99,35% cử tri đi bỏ phiếu, bầu ra 494
đại biểu Quốc hội. Nhiệm kỳ này, số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách đạt tỷ
lệ 34,91%, cao nhất so với các nhiệm kỳ Quốc hội khóa trước. Quốc hội khóa XIV
đã ban hành 65 luật và 99 nghị quyết, trong đó có nhiều đạo luật quan trọng
nhằm cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân; hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước theo các
nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Hoạt động giám sát ngày càng thể hiện
tinh thần đổi mới, sáng tạo, hành động vì lợi ích của Nhân dân, của đất nước.
Nội dung giám sát mang tính thiết thực, bao trùm hoạt động kinh tế và đời sống
xã hội. Bên cạnh đó, điểm mới trong nhiệm kỳ này là Quốc hội đã trực tiếp thành
lập các đoàn giám sát chuyên đề thay vì ủy quyền cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội
thành lập và triển khai thực hiện như trước đây.Việc quyết định những vấn đề
quan trọng của đất nước tiếp tục được nâng cao chất lượng và ngày càng thực chất
hơn, bảo đảm lợi ích quốc gia, phù hợp với ý chí, nguyện vọng của Nhân dân, tạo
ra những tác động tích cực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước.
Về đổi mới phương thức hoạt động của
Quốc hội, nhiệm kỳ này đánh dấu bước tiến vượt bậc của Quốc hội trong việc ứng
dụng công nghệ thông tin phục vụ hoạt động của Quốc hội. Việc đổi mới cách thức
thảo luận từ Quốc hội “tham luận” sang Quốc hội “tranh luận” cũng là một điểm
nhấn quan trọng tại nhiệm kỳ này; Quốc hội tiếp tục có nhiều đổi mới trong cách
thức tổ chức kỳ họp Quốc hội để thích nghi trong mọi hoàn cảnh. Điển hình nhất
là tại kỳ họp thứ 9, lần đầu tiên trong lịch sử, Quốc hội đã tổ chức kỳ họp theo
hình thức kết hợp giữa họp trực tuyến và họp tập trung để đáp ứng yêu cầu
phòng, chống dịch bệnh Covid-19. Hoạt động đối ngoại của Quốc hội phát huy vai
trò là kênh đối ngoại quan trọng, vừa mang tính đối ngoại nhà nước, vừa mang
tính nhân dân sâu sắc, đóng góp tích cực vào thành công chung trong việc thực
hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước, như: đăng cai tổ chức thành công
Hội nghị Diễn đàn Nghị viện Châu Á -Thái Bình Dương lần thứ 26 (APPF-26) vào
năm 2018, Quốc hội Việt Nam đảm nhiệm vai trò Chủ tịch AIPA và tổ chức Đại hội
đồng Liên nghị viện Hiệp hội các nước Đông Nam Á lần thứ 41 (AIPA-41) trong bối
cảnh đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp đã thể hiện vai trò thành viên chủ
động, tích cực, đối tác tin cậy và trách nhiệm của Việt Nam và Quốc hội Việt
Nam trên trường quốc tế, góp phần quan trọng duy trì môi trường hòa bình, ổn
định, hợp tác và phát triển ở khu vực và thế giới.
- Quốc hội khóa XV
(2021 - 2026): tổ chức bầu ngày
23/5/2021 trong bối cảnh bùng phát dịch bệnh Covid-19, một đại dịch toàn cầu
chưa từng có tiền lệ. Tuy nhiên, gần 70 triệu cử tri cả nước đã tham gia bỏ
phiếu (đạt tỉ lệ 99,6% - tỷ lệ cao nhất từ trước đến nay), bầu ra 499 đại biểu
Quốc hội đại diện cho cho các tầng lớp Nhân dân, thành phần xã hội.
Về cơ cấu tổ chức, Quốc hội khoá XV so
với các khoá trước đây thể hiện tư duy đột phá, một bước đi quyết liệt trong
việc thực hiện chủ trương của Đảng về thực hiện sắp xếp tinh gọn bộ máy, hệ
thống chính trị, qua đó, góp phần đổi mới mạnh mẽ tổ chức, hoạt động của Quốc
hội, bảo đảm hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo đúng tinh thần của Nghị
quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII về
tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền trong giai đoạn mới. Công
tác lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khoá XV được triển khai với tinh thần “lập pháp
chủ động”, bám sát thực tiễn, có nhiều cách làm mới, linh hoạt, hiệu quả, đạt
được nhiều kết quả quan trọng. Số lượng các luật, nghị quyết được thông qua
trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá XV tăng lên qua từng kỳ họp. Tính riêng số lượng
luật, nghị quyết được thông qua trong năm 2024 nhiều nhất từ đầu nhiệm kỳ tới
nay với 31 luật, 42 nghị quyết (chiếm gần 50% tổng số nhiệm vụ lập pháp đã hoàn
thành từ đầu nhiệm kỳ đến nay). Riêng Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV đã thông
qua 18 luật, gần bằng 1/3 tổng số luật được thông qua từ đầu nhiệm kỳ với chất
lượng đáp ứng được yêu cầu, được cử tri và Nhân dân đánh giá cao.
Hoạt động quyết định những vấn đề quan
trọng của đất nước của Quốc hội khoá XV đã đáp ứng kịp thời những đòi hỏi cấp
bách của thực tiễn đặt ra. Trong giai đoạn ứng phó, thích ứng với đại dịch
Covid-19 cũng như phục hồi phát triển kinh tế - xã hội sau đại dịch, Quốc hội
đã xem xét, quyết định nhiều chủ trương, chính sách lớn, cơ chế, quy định đặc
thù trong phòng, chống dịch Covid-19, hỗ trợ người dân, doanh nghiệp, nền kinh
tế chống chịu vượt qua những tác động của đại dịch; các chính sách tài khoá,
tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội với quy mô
chưa từng có. Giai đoạn đổi mới và tạo bứt phá trong phát triển kinh tế - xã
hội, Quốc hội đã thông qua các Nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội với
nhiều nhiệm vụ, giải pháp có tính mới, đột phá, trọng tâm, trọng điểm làm căn
cứ để Chính phủ tập trung chỉ đạo, điều hành.
Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV đã cho
ý kiến về việc sửa đổi Hiến pháp 2013 và sửa đổi các luật liên quan nhằm phục
vụ việc tinh gọn bộ máy theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày
25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục đổi mới, sắp
xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu
quả. Đây là thành tựu mang tính lịch sử, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi quyết định
thành công của cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy, tạo động lực đưa đất nước bước
vào kỷ nguyên phát triển mới.
Hoạt động giám sát của Quốc hội khoá
XV được tăng cường và đổi mới, ngày càng thể hiện tính linh hoạt, nhạy bén
trước những vấn đề lớn, nổi lên trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước,
góp phần thực hiện mục tiêu “không ngừng đổi mới và đẩy mạnh công tác giám sát
là khâu trọng tâm, then chốt để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc
hội”.
Hoạt động ngoại giao nghị viện tiếp
tục được đẩy mạnh, đạt nhiều thành tựu nổi bật trên cả hai bình diện song
phương và đa phương. Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, lần đầu tiên Chủ tịch
Quốc hội Việt Nam cùng Chủ tịch Quốc hội Campuchia và Chủ tịch Quốc hội Lào ký
Tuyên bố chung thiết lập cơ chế Hội nghị cấp cao Quốc hội ba nước
Campuchia-Lào-Việt Nam (CLV); Quốc hội Việt Nam đăng cai tổ chức thành công Hội
nghị Nghị sĩ trẻ toàn cầu lần thứ 9; các thỏa thuận hợp tác quốc tế được ký kết
giữa Quốc hội Việt Nam với Quốc hội các nước... Những kết quả này đã góp phần
thúc đẩy ngoại giao nghị viện và hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước, tạo
thuận lợi thúc đẩy tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế.
Đến nay, Quốc hội khoá XV đã tổ chức
tất cả 17 kỳ họp Quốc hội, trong đó có 9 kỳ họp bất thường và 8 kỳ họp thường
lệ. Bên cạnh đó, mỗi kỳ họp Quốc hội được điều chỉnh về thời gian và cách thức
tiến hành để bảo đảm tính linh hoạt, phản ứng nhanh và đáp ứng yêu cầu của thực
tiễn, nhất là trong giai đoạn phòng, chống dịch Covid-19. Đặc biệt, việc triển
khai xây dựng Quốc hội số và ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo trong chuyển
đổi số của Quốc hội được thực hiện quyết liệt, thể hiện quyết tâm của Quốc hội
trong việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tiên tiến để nâng cao hiệu lực, hiệu quả
hoạt động, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.
TIẾP TỤC ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA QUỐC HỘI TRONG KỶ NGUYÊN MỚI
Qua 80 năm hình thành, xây dựng và
phát triển, Quốc hội Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh, là hiện thân của khối
đại đoàn kết toàn dân tộc, là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gắn bó
chặt chẽ và có trách nhiệm với các cử tri, luôn đại diện cho ý chí và nguyện
vọng của Nhân dân. Sự phát triển của Quốc hội là một quá trình liên tục kế
thừa và không ngừng đổi mới, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của mỗi giai đoạn cách
mạng Việt Nam. Kinh nghiệm thực tiễn của Quốc hội khóa trước luôn là bài học
quý cho việc củng cố, nâng cao Quốc hội khóa sau. Việc đổi mới cơ cấu tổ chức
và phương thức hoạt động của Quốc hội cần được tiến hành chặt chẽ, đồng bộ, có
định hướng mục tiêu rõ ràng, bước đi chắc chắn và mang lại hiệu quả thiết thực.
Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022
của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII về tiếp tục
xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền trong giai đoạn mới được coi là cơ
sở chính trị quan trọng để đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội. Nghị
quyết thể hiện quan điểm tổng thể của Đảng ta về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, bao gồm: 5 quan điểm, mục tiêu tổng quát, 5 mục tiêu cụ thể, 8
đặc trưng, 3 trọng tâm, 10 nhiệm vụ với 42 nhóm giải pháp của việc tiếp tục xây
dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai
đoạn mới. Toàn bộ Nghị quyết thể hiện tinh thần, tư tưởng, quan điểm, mục tiêu
trọng tâm, nhiệm vụ và giải pháp đổi mới mang tính đột phá trong việc tiếp tục
xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Theo đó,
cần tiếp tục đổi mới tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội đáp
ứng các yêu cầu sau đây:
1. Tiếp
tục xây dựng Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, đại
diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân, là cơ quan quyền lực nhà nước cao
nhất; phát huy tính dân chủ, pháp quyền, hiện đại, chuyên nghiệp, khoa học,
công khai, minh bạch, hiệu lực, hiệu quả trong tổ chức và hoạt động, bảo đảm
Quốc hội thực hiện tốt chức năng lập pháp, quyết định các vấn đến quan trọng
của đất nước, giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.
2. Đề cao
vai trò trung tâm của đại biểu Quốc hội; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt
động, bảo đảm tiêu chuẩn, cơ cấu đại biểu Quốc hội; tăng hợp lý số lượng đại
biểu Quốc hội chuyên trách, giảm số lượng đại biểu công tác ở các cơ quan hành
pháp, tư pháp. Gắn trách nhiệm của đại biểu Quốc hội với đơn vị bầu cử và cử
tri; đổi mới mạnh mẽ nội dung, hình thức tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội;
hoàn thiện cơ chế giám sát của cử tri và cơ chế, phương thức, tiêu chí đánh giá
đối với đại biểu Quốc hội; bảo đảm các điều kiện để đại biểu Quốc hội thực hiện
tốt vai trò trung tâm của mình.
3. Tiếp
tục đổi mới tổ chức, hoạt động của Quốc hội theo hướng nghiên cứu tăng hợp lý
số kỳ họp của Quốc hội; kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ do Hiến pháp quy
định; đề cao vị trí, vai trò, kiện toàn tổ chức, nâng cao năng lực hoạt động
của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội theo hướng rành mạch, chủ động,
trách nhiệm, chuyên sâu, nhạy bén; hoàn thiện thiết chế Tổng Thư ký Quốc hội;
xây dựng Quốc hội điện tử.
4. Tiếp tục đổi mới
căn bản, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động lập pháp, bảo đảm quản trị
quốc gia bằng Hiến pháp và pháp luật, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
5. Đẩy nhanh vững
chắc, có cơ sở khoa học việc xây dựng hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng,
nhân đạo, đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, ổn định,
khả thi, dễ tiếp cận, đủ khả năng điều chỉnh các quan hệ xã hội, lấy quyền và
lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, tổ chức, doanh nghiệp làm trung
tâm, tập trung vào các lĩnh vực, vấn đề đột phá, trọng điểm cần đầu tư để thúc
đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững.
6. Tiếp tục đổi mới,
hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật, bảo đảm chuyên nghiệp, khoa học, kịp
thời, khả thi, hiệu quả; đa dạng hoá nguồn pháp luật, đề cao và coi trọng đạo
luật, đơn giản hoá, giảm tầng nấc, loại hình văn bản trong hệ thống văn bản quy
phạm pháp luật; chủ động tham gia, đóng góp vào việc xây dựng, định hình các
thể chế đa phương và trật tự quốc tế, khu vực; hiện đại hoá phương thức, phương
tiện xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật.
7. Phát triển nguồn
nhân lực pháp luật, nâng cao hiệu quả, chất lượng đào tạo nhân lực hợp tác pháp
luật quốc tế; xây dựng cơ chế thúc đẩy sự tham gia và hiện diện của chuyên gia
pháp luật Việt Nam trong các thiết chế pháp luật quốc tế; hoàn thiện cơ chế
pháp lý về bảo hộ, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân,
pháp nhân Việt Nam ở nước ngoài.
8. Tiếp tục nghiên
cứu xác định rõ hơn phạm vi, đối tượng, phương pháp, hình thức giám sát tối cao
của Quốc hội phù hợp thực tiễn; nâng cao chất lượng hoạt động chất vấn, giải
trình, giám sát văn bản quy phạm pháp luật; chú trọng việc theo dõi, xem xét,
đôn đốc việc thực hiện các kiến nghị sau giám sát; thực hiện nghiêm việc lấy
phiếu tín nhiệm của Quốc hội.
9. Đổi mới quy trình
quyết định về ngân sách nhà nước bảo đảm thực chất, đi đôi giám sát việc thực
hiện ngân sách, từng bước thay thế việc ban hành các nghị quyết bằng các đạo
luật về tài chính, ngân sách.
Kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội
Việt Nam (06/01/1946 - 06/01/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta
ôn lại lịch sử hình thành và phát triển; khẳng định những thành tựu to lớn
mà Quốc hội nước ta đã đạt được trong 80 năm qua. Kế thừa và phát huy truyền
thống hào hùng của dân tộc; bài học kinh nghiệm; dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu
sát, toàn diện, kịp thời của Đảng, sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan trong
hệ thống chính trị, sự hợp tác và giúp đỡ của bạn bè quốc tế, sự ủng hộ và giám
sát của Nhân dân, Quốc hội nước ta sẽ tiếp tục làm tốt vai trò, chức năng là cơ
quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phấn đấu vì mục tiêu: Dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.